Thứ ba, thúc đẩy chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết đặt mục tiêu Phấn đấu hoàn thành việc số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026. Đây là khối lượng công việc rất lớn và thời gian còn rất ngắn. Tuy nhiên, không được chạy theo tỷ lệ để số hóa hình thức. Một di sản không thể được coi là đã số hóa chỉ vì đã được chụp ảnh, quét tài liệu hoặc đưa lên một trang thông tin.
Dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng. Dữ liệu di sản phải phục vụ được quản lý, giáo dục, nghiên cứu, du lịch, công nghiệp văn hóa và phát triển trí tuệ nhân tạo; nếu chỉ nằm trong các kho dữ liệu khép kín thì chưa tạo ra giá trị mới.
Trước hết, phải tập trung vào các nhóm dữ liệu nền tảng: Tiếng Việt, lịch sử, di tích, di sản phi vật thể, hiện vật bảo tàng, thư viện, văn học, nghệ thuật truyền thống và di sản tư liệu. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm về nội dung, độ chính xác và bản quyền; Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm về kiến trúc kỹ thuật, tiêu chuẩn kết nối và khả năng khai thác dữ liệu trong các công nghệ mới.
"Quan trọng hơn, việc số hóa phải hình thành nên tri thức số và tài sản trí tuệ quốc gia."
Quan trọng hơn, việc số hóa phải hình thành nên tri thức số và tài sản trí tuệ quốc gia. Mỗi bộ dữ liệu, mỗi di sản được số hóa cần được quản lý như một loại tài sản có khả năng tạo ra giá trị khoa học, giá trị văn hóa và giá trị kinh tế. Khẩn trương hoàn thiện cơ chế xác lập, bảo hộ, quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ đối với các tài sản văn hóa được số hóa; xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, cộng đồng, nghệ nhân, tác giả, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp trong quá trình khai thác các giá trị văn hóa. Khuyến khích mạnh mẽ việc chuyển hóa chất liệu văn hóa Việt Nam thành các sản phẩm sáng tạo trong điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, mỹ thuật, thiết kế, trò chơi điện tử, du lịch, giáo dục, truyền thông và các ngành công nghiệp văn hóa khác, để di sản tiếp tục được sáng tạo, lan tỏa và tạo ra giá trị mới trong đời sống đương đại.
Tôi yêu cầu Ban Chỉ đạo Trung ương thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ này; không chỉ đánh giá bằng tỷ lệ số hóa, mà phải đánh giá bằng khả năng tạo lập tri thức số, hình thành tài sản trí tuệ, phát triển sản phẩm sáng tạo và đóng góp thực chất của tài nguyên văn hóa đối với giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa và tăng trưởng kinh tế.
Thứ tư, phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tôi đề nghị trong phiên họp chuyên đề tiếp theo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa đóng góp vào tăng trưởng hai con số phải xác định rõ lĩnh vực nào có khả năng tạo tăng trưởng; địa phương nào có thể hình thành trung tâm dẫn dắt; doanh nghiệp nào có năng lực; dự án nào có thể tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và thị trường.
Trên cơ sở đó, Chính phủ khẩn trương hoàn thiện và đưa vào vận hành hệ thống thống kê quốc gia về công nghiệp văn hóa; trong năm 2026 phải hình thành được số liệu gốc, phương pháp tính thống nhất và cơ chế công bố định kỳ. Phải đo được đóng góp của từng ngành, từng địa phương; doanh thu trong nước và xuất khẩu; số doanh nghiệp, việc làm, thu nhập; giá trị bản quyền, tài sản trí tuệ và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị.
Mỗi địa phương trọng điểm chỉ lựa chọn một số ít lĩnh vực và không quá ba dự án dẫn dắt. Mỗi dự án phải làm rõ sản phẩm, doanh nghiệp thực hiện, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ và đóng góp dự kiến vào GRDP, việc làm, xuất khẩu hoặc thu hút du lịch. Đến tháng 10/2026, những địa phương như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ phải xác định quỹ đất dành cho khu, trung tâm công nghiệp văn hóa, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và sáng tạo nội dung số. Các địa phương không xây dựng các mô hình giống nhau; mỗi trung tâm phải có chức năng khác biệt, gắn với lợi thế, thị trường, chủ thể đầu tư và khả năng liên kết vùng.
Thưa các đồng chí,
Bác Hồ đã căn dặn: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Trải qua gần một thế kỷ, tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị. Nhưng trong bối cảnh mới, văn hóa không chỉ soi đường cho mỗi con người, mà còn định hướng con đường phát triển của cả dân tộc. Hơn một nghìn năm Bắc thuộc là hơn một nghìn năm phải đối mặt với nguy cơ đồng hóa về văn hóa. Nhưng dân tộc Việt Nam vẫn giữ được tiếng nói, chữ viết, phong tục, tín ngưỡng, đạo lý và ý chí độc lập. Chính sức sống bền bỉ của văn hóa đã gìn giữ sức sống của dân tộc.
"Bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương địa, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa và trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam."
Nếu trước đây, chúng ta phải bảo vệ văn hóa trước nguy cơ đồng hóa bằng sức mạnh cưỡng bức, thì ngày nay, thách thức đến từ sự cạnh tranh về sức hấp dẫn của các giá trị văn hóa trong môi trường số. Dữ liệu, thuật toán và trí tuệ nhân tạo đang ngày càng tham gia định hình nhận thức, thị hiếu, lối sống và hệ giá trị của xã hội. Điều đó đặt ra bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa và trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam.
Tôi đề nghị các đồng chí tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, khẩn trương cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí!